Cùng một con số cây xanh, hai dự án có thể cho ra hai trải nghiệm sống hoàn toàn khác nhau - khác biệt nằm ở chỗ con số ấy gồm những gì.

Trong tờ rơi của gần như mọi khu đô thị mới đều có một dòng về cây xanh. Con số đó có thật và thường lấy đúng từ đồ án được duyệt.
Vấn đề là con số ấy gộp nhiều loại đất rất khác nhau về giá trị sử dụng, và tờ rơi không tách ra. Người đọc mặc định hình dung một công viên, trong khi phần lớn diện tích có thể là thứ khác hẳn.
Bốn lớp nằm chung trong một con số
| Lớp | Người ở dùng được không | Thường chiếm bao nhiêu |
|---|---|---|
| Công viên, vườn hoa có lối vào | Có, dùng hằng ngày | Phần nhỏ nhất |
| Khoảng xanh giữa các dãy nhà | Có, dùng nhiều | Vừa |
| Dải cây ven đường, đảo giao thông | Đi qua, không dừng lại | Vừa tới lớn |
| Hành lang bảo vệ kênh, mương, đê, lưới điện | Gần như không | Thay đổi theo địa hình |
-> Hai dự án cùng công bố một tỷ lệ cây xanh có thể có cơ cấu bên trong ngược nhau. Một bên là công viên trung tâm và sân chơi giữa các dãy nhà. Một bên là dải cây ven trục đường chính và hành lang mương thoát nước. Con số như nhau, cuộc sống khác hẳn.
Câu hỏi thay cho con số
Thay vì hỏi cây xanh bao nhiêu phần trăm, ba câu dưới đây cho biết nhiều hơn.
Câu một - nó nằm ở đâu trên bản vẽ. Đề nghị chỉ trên bản vẽ quy hoạch, không phải trên phối cảnh. Phối cảnh vẽ cây ở mọi chỗ, kể cả những chỗ mà bản vẽ ghi là đường.
Câu hai - ai được vào. Một công viên nằm trong ranh giới một phân khu có kiểm soát ra vào thì cư dân phân khu khác không dùng được, dù nó vẫn được tính vào chỉ tiêu chung của cả dự án. Ranh giới sở hữu chung và riêng nằm ở Tiện ích chung và riêng: ai sở hữu, ai được dùng.
Câu ba - ai trả tiền duy trì. Cảnh quan là hạng mục tốn tiền vận hành đều đặn: tưới, cắt tỉa, thay cây chết, chiếu sáng. Phần thuộc sở hữu chung được duy trì bằng phí quản lý của cư dân, nên diện tích cảnh quan lớn thường đi cùng phí quản lý cao hơn - xem Phí quản lý vận hành tính thế nào, và ai quyết mức phí.
Câu ba là câu ít ai hỏi nhất và cũng là câu có hệ quả tiền bạc rõ nhất.
Một khu đô thị có cảnh quan đẹp trong năm đầu mà không có nguồn kinh phí duy trì bền vững thì tới năm thứ năm sẽ trông rất khác so với ngày bàn giao. Đây là thứ nhìn thấy được ở các khu đã vận hành lâu, và là lý do nên đi xem một khu cùng chủ đầu tư đã bàn giao vài năm trước khi quyết định.
Chỉ tiêu cây xanh nói gì về mật độ xây dựng
Hai chỉ tiêu này là hai mặt của cùng một bài toán chia đất. Đọc riêng một cái thì thiếu.
Trong một khu đất cố định, phần dành cho cây xanh và không gian mở tăng lên thì phần đất xây dựng phải giảm đi, hoặc chiều cao công trình phải tăng lên để giữ nguyên số căn. Không có cách thứ ba.
-> Vì vậy khi thấy một dự án vừa có tỷ lệ cây xanh cao vừa có mật độ xây dựng thấp vừa có nhiều sản phẩm thấp tầng, hãy tìm xem phần bù nằm ở đâu: có thể ở quy mô đất lớn, có thể ở một cụm cao tầng đặt ở góc mà tờ rơi ít nhắc tới. Cách đọc cặp chỉ tiêu này nằm ở Mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất: đọc sao cho đúng.


Ba chỗ hay bị nhầm khi đọc
Nhầm phối cảnh với quy hoạch. Phối cảnh là công cụ truyền thông và không phải cam kết. Bản vẽ quy hoạch được duyệt mới là thứ có giá trị pháp lý. Cách đọc sa bàn và phân biệt hai loại hình ảnh này nằm ở Đứng trước sa bàn nên nhìn gì, và sa bàn giấu điều gì.
Nhầm cây xanh toàn khu với cây xanh phân khu mình ở. Trong một dự án lớn nhiều giai đoạn, phần công viên trung tâm thường thuộc giai đoạn sau. Người mua giai đoạn đầu sống cạnh công trường trong nhiều năm trước khi thấy phần cảnh quan đó.
Nhầm mặt nước với cây xanh. Hồ điều hoà, kênh, mương có thể được tính vào nhóm không gian mở. Chúng có giá trị riêng - làm mát, thoát nước - nhưng không thay được chỗ đi bộ và chỗ chơi cho trẻ con.
Ai KHÔNG cần đi sâu vào phần này
Người mua để đầu tư ngắn hạn và không có ý định ở. Chỉ tiêu cây xanh ảnh hưởng tới trải nghiệm sống và tới giá trị dài hạn, ít ảnh hưởng tới thanh khoản trong vài năm đầu.
Người mua sản phẩm mặt tiền kinh doanh. Ở đây trục quyết định là lưu lượng người qua lại, mặt cắt đường và khả năng dừng đỗ, chứ không phải khoảng xanh.
Người mua trong khu đã hoàn thiện và đã có dân cư. Không cần đọc chỉ tiêu, chỉ cần tới đó vào buổi chiều muộn và nhìn xem có ai đang dùng phần cảnh quan ấy không. Một khu đã có dân cư tự trả lời câu hỏi này rõ hơn mọi chỉ tiêu trên giấy.
Điều bài này không nói
Bài này không nêu mức chỉ tiêu cây xanh bắt buộc theo quy chuẩn, vì con số đó khác nhau theo loại đô thị, loại đồ án và thời kỳ ban hành - cần tra tại quy chuẩn hiện hành và đồ án được duyệt của từng dự án. Bài cũng không đánh giá chỉ tiêu cây xanh của bất kỳ dự án cụ thể nào, và không dự báo ảnh hưởng của chỉ tiêu này tới giá.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ tiêu cây xanh trong quy hoạch nghĩa là gì?
Là phần diện tích đất được bố trí cho cây xanh và không gian mở trong đồ án quy hoạch, thường được nêu dưới dạng tỷ lệ trên tổng diện tích hoặc mét vuông trên mỗi người dân dự kiến. Đây là chỉ tiêu quy hoạch, tức là cam kết về bố trí đất, không phải cam kết về chất lượng cảnh quan sau khi hoàn thành.
Vì sao hai dự án cùng tỷ lệ cây xanh lại khác nhau khi ở?
Vì con số đó gộp nhiều loại đất rất khác nhau về giá trị sử dụng: công viên trung tâm dùng được hằng ngày, dải cây ven đường chỉ đi qua, hành lang bảo vệ kênh mương không vào được, và mặt nước. Hai dự án cùng một tỷ lệ nhưng khác cơ cấu bên trong sẽ cho hai trải nghiệm khác hẳn.
Nên hỏi gì để biết cây xanh có dùng được không?
Hỏi ba câu: phần cây xanh đó nằm ở đâu trên bản vẽ, ai được vào, và ai trả tiền duy trì. Một công viên trung tâm có lối vào công cộng và có đơn vị quản lý là loại dùng được. Một dải xanh nằm giữa hai làn đường thì tính vào chỉ tiêu nhưng không ai ra đó ngồi.
Cây xanh trong dự án được duy trì bằng tiền của ai?
Tuỳ phần đất đó thuộc sở hữu chung của cư dân hay được bàn giao cho địa phương quản lý. Phần thuộc sở hữu chung được duy trì bằng phí quản lý mà cư dân đóng, nên diện tích cảnh quan lớn thường đi kèm phí quản lý cao hơn. Đây là chỗ nên hỏi trước khi mua chứ không phải sau khi nhận nhà.
Số liệu trong bài lấy từ đâu (4 mục)
| Khẳng định trong bài | Căn cứ |
|---|---|
| Cách đọc chỉ tiêu mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất trong một đồ án | Bài cùng hệ thống: Mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất: đọc sao cho đúng — khanhhoabds.vn/mat-do-xay-dung-va-he-so-su-dung-dat |
| Phân biệt tiện ích thuộc sở hữu chung và tiện ích thuộc sở hữu riêng | Bài cùng hệ thống: Tiện ích chung và riêng: ai sở hữu, ai được dùng — khanhhoabds.vn/tien-ich-chung-va-rieng-ai-so-huu |
| Cách đọc sa bàn dự án và các chỗ sa bàn thường nói thiếu | Bài cùng hệ thống: Đứng trước sa bàn nên nhìn gì, và sa bàn giấu điều gì — khanhhoabds.vn/doc-sa-ban-du-an-nhu-dan-trong-nghe |
| Chi phí vận hành và bảo trì tiện ích chung được phân bổ ra sao | Bài cùng hệ thống: Phí quản lý vận hành tính thế nào, và ai quyết mức phí — khanhhoabds.vn/phi-quan-ly-van-hanh-tinh-the-nao |
